hkp1009
Member

- Phần lớn thủy điện miền Trung không phải loại hồ lớn giữ nước lâu để phát điện ổn định quanh năm.
- Chúng chủ yếu thuộc nhóm hồ điều tiết ngày hoặc tuần, nghĩa là chỉ trữ được một lượng nước rất nhỏ, đủ để chạy máy vài giờ hoặc vài ngày tùy thời điểm mưa.
- Nói nôm na là nhóm thủy điện chạy theo dòng chảy tự nhiên, gần giống thủy điện không hồ chứa. Hết nước là… dừng máy. Không có chuyện tích nước hàng tháng hay cả mùa như hồ lớn ở miền Bắc. Nước về bao nhiêu thì phát điện bấy nhiêu và xả ra bấy nhiêu (sau khi chạy máy).
- Nên yêu cầu nó “giữ lũ” là không thực tế; chúng vốn được thiết kế chủ yếu để tận dụng dòng chảy chứ không phải để điều tiết.
- Vì vậy, nguyên nhân chính gây ngập vẫn là lượng mưa cực lớn trên lưu vực, còn việc xả lũ chỉ làm nước xuống hạ du nhanh hơn chứ không tạo ra lũ. Nói cách khác, thủy điện miền Trung không có khả năng giữ nước để “chặn lũ”, nên không thể coi thuỷ điện xả lũ là tác nhân gây lũ mà chỉ là bước vận hành bắt buộc khi hồ đã đầy.
- Nhưng hồ thuỷ điện miền Trung nhỏ cũng không phải vì không muốn xây to mà là không xây được
- Miền Trung gần như không thể xây được các hồ chứa lớn vì đặc điểm tự nhiên không cho phép.
Dãy Trường Sơn áp sát biển khiến sông ngòi ở đây ngắn, dốc và lòng thung lũng rất hẹp, không có không gian để tích nước với quy mô hàng tỉ mét khối như các hồ Sơn La hay Hòa Bình.
- Địa chất lại phức tạp, nhiều đứt gãy nên không đủ điều kiện để xây đập cao và tích nước lớn một cách an toàn. Nếu cố làm hồ lớn, vùng ngập sẽ tràn qua hàng loạt khu dân cư bám dọc thung lũng, đòi hỏi di dời hàng chục nghìn hộ, vượt quá khả năng kinh tế và khó khả thi về xã hội.
- Vì những hạn chế cố hữu này, phần lớn hồ thủy điện miền Trung chỉ có dung tích nhỏ, điều tiết ngày hoặc tuần và không thể đóng vai trò điều tiết lũ
- Lấy trường hợp hồ thuỷ điện sông Ba. Dung tích toàn bộ của hồ chỉ khoảng 350 triệu m³.
- So sánh với Sơn La: 9.260 triệu m³, Hòa Bình: 9.450 triệu m³, Cửa Đạt: 1.450 triệu m³, thì dung tích nhỏ hơn 25–30 lần.
- Với một đợt mưa kéo dài suốt 4 ngày, tổng lượng mưa lên đến khoảng 800 mm, hồ nhỏ nên sau một thời gian mưa liên tục là bão hoà, không còn chỗ trống.
- Từ thời điểm hồ đầy, nước về bao nhiêu thì buộc phải chảy xuống hạ du bấy nhiêu. Hồ lúc này như một đoạn sông mở rộng nên tranh cãi “xả hay không xả” lúc này hoàn toàn vô nghĩa.
- Nhiều người vẫn nghĩ các nhà máy thủy điện nhỏ cố ý “tích nước thật nhiều để rồi xả gây lũ”, nhưng thực tế hoàn toàn không phải vậy.
- Thuỷ điện nhỏ không cố tình xả, không tạo thêm lũ, nhưng đặc điểm kỹ thuật của chúng khiến rủi ro lũ miền Trung trở nên khó kiểm soát hơn. Các hồ nhỏ này không có dung tích phòng lũ lớn, nên khi mưa lớn kéo dài sẽ sớm đầy và toàn bộ lưu lượng mưa trên lưu vực dồn xuống hạ du theo đúng nhịp của mưa cực đoan. Điều này khiến lũ lên nhanh, khó dự báo và khó sơ tán. Nước không đi theo “nhịp tự nhiên” mà theo nhịp vận hành khiến đỉnh lũ trùng pha, lũ tổng hợp mạnh hơn.
- Đây là lý do giới thủy văn từ lâu đã khẳng định: chỉ những hồ chứa lớn, điều tiết theo năm như Hòa Bình hay Sơn La mới thật sự có khả năng cắt lũ. Còn các thủy điện nhỏ, do đặc tính kỹ thuật và địa hình, không nên được xây thêm nếu mục tiêu là đảm bảo an toàn lũ cho hạ du.
Một lý do khác để hạn chế thủy điện nhỏ là hiệu quả kinh tế – môi trường thấp. Dung tích nhỏ, sản lượng điện không nhiều, nhưng đổi lại mất rừng đầu nguồn, xói lở lòng sông, giảm chất lượng lưu vực, tăng nguy cơ lũ quét, gây khó khăn cho giao thông, sinh kế của người dân. Trong khi lợi ích điện năng thường không đủ lớn để bù lại các tổn thất này.
- Vì vậy, nhiều quốc gia đã chuyển từ “xây thêm thủy điện nhỏ” sang “quản lý lưu vực và mở rộng hồ chứa lớn có chức năng điều tiết theo năm”. Ở Việt Nam, những hồ chứa lớn như Hòa Bình, Sơn La, Tuyên Quang, Cửa Đạt mới là những công trình có thể thật sự giảm lũ. Còn thủy điện nhỏ chỉ nên duy trì ở mức hạn chế, hoặc được xem xét kỹ càng trong bối cảnh biến đổi khí hậu làm mưa lớn ngày càng cực đoan.